Thống kế về ung thư Hà Nội

Tình hình bệnh Ung thư ở Hà Nội giai đoạn 1996-1999

TÓM TẮT:

      Tình hình mắc bệnh Ung thư của người dân Hà Nội giai đoạn 1996-1999 đã được đánh giá sử dụng số liệu ghi của ghi nhận Ung thư Hà Nội. Tỷ lệ mắc thô, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi, tỷ lệ mắc đặc trưng theo nhóm tuổi tính trên 100.000 dân được ước tính cho từng vị trí Ung thư và cho mọi Ung thư gộp lại sử dụng phần mềm CANREG-3. Số liệu được so sánh với số liệu giai đoạn 1991-1995 và so sánh với tình hình Ung thư của một số địa phương khác trong khu vực. Kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc trung bình hàng năm của mọi Ung thư ở nam giới Hà Nội trong giai đoạn này là 11,4/100.000 dân và ở nữ giới là 94,3/100.000 dân. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 139,0 và 98,4. Ung thư phổi, dạ dày, gan, đại trực tràng và vòm là những Ung thư hàng đầu ở nam giới. Ung thư vú, dạ dày, đại trực tràng, phổi, gan, vòm họng và cổ tử cung là các ung thư hàng đầu ở phụ nữ. So với giai đoạn 1991-1995, ung thư thực quản, dạ dày, trực tràng, tuyến tiền liệt, vú và buồng trứng có xu hướng giảm nhẹ. So với tình hình ung thư của một số khu vực trên Thế giới, Hà Nội thuộc vùng có nguy cơ ung thư dạ dày, vòm họng, gan cao trong khi ung thư vú, đại trực tràng, cổ tử cung, tiền liệt tuyến lại thấp.

ĐẶT VẤN ĐỀ:

      Các ghi nhận quần thể ung thư là nguồn duy nhất cung cấp số liệu về gánh nặng ung thư trong một cộng đồng. Các số liệu về tình hình ung thư trong một cộng đồng phải được định kỳ phân tích, đánh giá nhằm phát hiện những xu hướng và những thay đổi đặc điểm bệnh tật để đưa ra các đối sách kịp thời. Báo cáo này phân tích tình hình mắc ung thư của người Hà Nội trong giai đoạn 1996-1999. Số liệu được so sánh với số liệu giai đoạn 1991-1995 và so sánh với tình hình Ung thư của một số địa phương khác trong khu vực.

TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP:

Định nghĩa ca bệnh:

      Mọi trường hợp bệnh nhân có địa chỉ thường trú tại “Hà Nội”, trong khoảng thời gian từ 1-1-1996 đến 31-12-1999 được chẩn đoán lần đầu là “u ác tính” của một tổ chức hoặc một cơ quan nào đó (kể cả luucemia. Mang mã số bệnh theo phân loại Quốc tế lần thứ 10 từ C00 đến C80) có hặc không kèm theo chẩn đoán vị thể, được chẩn đoán tại 1 trong số 24 bệnh viện và cơ sở y tế tham gia cung cấp số liệu cho ghi nhận ung thư. Các khối u chưa rõ bản chất, các khối u có chẩn đoán “nghi ngờ ung thư” hoặc các tổn thương ranh giới ung thư và lành, các ung thư tại chỗ, theo nguyên tắc, vẫn được ghi nhận ung thư nhưng không đưa vào phân tích.

      Theo quy ước của Hiệp hội Ghi nhận Ung thư Quốc tế, “ngày mắc” (Incidence date) được coi là ngày khám đối với những bệnh nhân được chẩn đoán tại phòng khám bệnh; ngày vào viện đối với những bệnh nhân được nhận vào điều trị do ung thư; ngày đọc kết quả chẩn đoán, vì thế nếu ung thư được chẩn đoán tại các khoa giảiphaur bệnh / tế bào. Ngày mổ autopsy nếu ung thư được chẩn đoán trong khi lam autopsy. Nếu một ca ung thư được ghi nhận nhiều lần thì ngày mắc được coi là ngày ghi nhận sớm nhất.

Nguồn số liệu:

      Tất cả 24 bệnh viện và cơ sở y tế tuyến trung ương và thành phố tham gia cung cấp số liệu. Các trung tâm Y tế quận huyện không tham gia ghi nhận do:

Thiếu khả năng chẩn đoán vi thể.

Hầu hết các trường hợp ung thư đều được chuyển lên tuyến trên để chẩn đoán và điều trị.

Tại mỗi bệnh viện nguồn thông tin chính là:

  • Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân điều trị.
  • Danh sách bệnh nhân của các khoa phòng điều trị.
  • Sổ ghi kết quả xét nghiệm: Sổ autopsy của khoa GPB-TB.
  • Sổ ghi chép của các khoa phòng khám đa khoa và chuyên khoa.
  • Sổ của các khoa phòng nội soi, siêu âm (nếu có).

      Do thống kê tử vong ở Việt Nam không tiến hành theo nguyên nhân y tế nên không thể sử dụng nguồn số liệu này cho công tác ghi nhận.

Thu thập số liệu:

      Việc ghi nhận được tiến hành chủ yếu theo phương pháp ghi nhận chủ động. Tại một số cơ sơe, nơi có điều kiện thuận lợi tiến hành cả ghi nhạn thụ động.

      Chu kỳ xuống cơ sở lấy số liệu tuỳ thuộc vào số ca mà mỗi bệnh viện cung cấp nhưng không dưới 2 lần một năm.

      Do đặc thù tổ chức chuyên môn, trật tự luân chuyển hồ sơ bệnh án, cách tổ chức các kho lưu trữ hồ sơ của mỗi bệnh viện có những đặc điểm khác nhau nên qui trình ghi nhận tại mỗi bệnh viện được thiết kế cho phù hợp với hoàn cảnh của từng bệnh viện.

Xử lý thông tin:

      Những thông tin thu thập và quá trình xử lý thông tin đều tuân theo khuyến cáo của Mc Lenan trong cuốn “Ghi nhận ung thư: Các nguyên tắc và phương pháp”.

      Mọi thông tin có được về những ca ung thư mới xuất hiện ở cơ sở trong khoảng thời gian từ lần viếng thăm cuối cùng trở đi được ghi nhận vào một danh sách (Không ghi nhận những trường hợp có địa chỉ thường trú không ở Hà Nội). Các trường hợp có địa chỉ không rõ hoặc không địa chỉ cũng đều được ghi nhận. Với những ca không có địa chỉ không rõ hoặc không địa chỉ (thường là các khoa giải phẫu bệnh – tế bào), tiến hành một quá trình tìm kiếm địa chỉ tích cực thông qua danh sách bệnh nhân nằm viện của y vụ, kho hồ sơ. . ., nếu là bệnh nhân ngoài Hà Nội, được loại bỏ. Các bệnh nhân không tìm thấy địa chỉ được giữ riêng. Danh sách bệnh nhân thoả mãn điều kiện ghi nhận sau đó được cập nhật vào máy tính. Chương trình CANREG-3 sẽ tự động đối chiếu thông tin về những trường hợp mới cập nhật với một tệp index trong đó liệt kê tên các đối tượng đã ghi nhận trường hợp đó như một ca mới không, nếu là trường hợp “trùng” sẽ xem xét có phải là trường hợp ung thư “đúp” không? Nếu không, xem xét sẽ bổ sung dữ liệu.

      Việc mã vị trí u nghuyên phát và chẩn đoán tổ chức học dựa vào Phân loại bệnh Quốc tế các khối u lần thứ 2 (CIMO-2). Việc chuyển đổi từ mã CIM-0 sang CIM-9 được thực hiện một cách tự động bằng phần mền CANREG.

      Ghi nhận ung thư Hà Nội sử dụng phần mềm CANREG-3 trong việc xủ lý dữ liệu và phân tích kết quả.

Kiểm tra chất lượng

      Độ tin cậy của số liệu:

      Các phương tiện và biến pháp sau đây được sử dụng để duy trì tính tin cậy của thông tin thu thập được:

  1. Phần mềm CANREG-3 kiểm tra thông tin tự động, cho phép loại trừ những trường hợp đưa các giá trị ngoài ngưỡng cho phép hoặc những phối hợp thông tin vô lý (giới-vị trí u nguyên phát).
  2. Phương pháp đánh giá hợp lý nội bộ của dữ liệu: Ghi nhận ung thư Hà Nội (GNUTHN) duy trì kiểm tra dữ liệu định kỳ bằng phần mềm CHECK. Các cặp thông tin vo lý do phần mềm CHECK đưa ra được đối chiếu lại với số liệu gốc để kiểm tra sự chính xác của thông tin và/hoặc tham khảo ý kiến của các nhà giải phẫu bệnh hoặc lâm sàng.

      Tính đầy đủ của số liệu:

      GNUTHN đã duy trì những biện pháp sau đây để cải thiện tính đầy đủ của số liệu.

  • Tiến hành ghi nhận chủ động. Ghi nhận thụ động chỉ tiến hành ở những nơi cộng tác viên nhiệt tình với công tác ghi nhận và thường xuyên giám sát tính đầy đủ và tính chính xác của các ca ghi nhận.
  • Tích cực tìm kiếm ca, bổ sung nguồn tin mới.
  • Việc lấy thông tin với mật độ hợp lý.
  • Dùng biện pháp “so sánh các nguồn số liệu độc lập” để bổ sung các ca bị thiếu.

Phân tích kết quả: Sử dụng phần mềm CANREG, EPIINFO để phân tích dữ liệu.

      Dân số:

      Dân số sử dụng để ước tính tỷ lệ mắc bệnh trung bình hàng năm của giai đoạn 1996-1999 là dân số trung bình của năm 1997.

Các chỉ số được tính toán:

1- Tỷ lệ mắc bệnh thô theo giới, vị trí/năm:

  Số ca trung bình/năm của loại ung thư đó

—————————————————-  X  100%

         Dân số trung bình 1991-1995

2- Tỷ lệ mắc đặc trưng theo tuổi (5 năm tuổi), giới, vị trí

        Số ca trung bình/năm của loại UT đó trong nhóm tuổi quan tâm

———————————————————————————— X  100%

                       Dân số trung bình trong nhóm tuổi

3- Tỷ lệ mắc chuẩn theo phương pháp chuẩn trực tiếp. Dân số chuẩn là dân số Thế giới.

ASR =S(Rx . Wx / 105)/S Wx.

      Trong đó:

  • x: Là nhóm 5 tuổi.
  • Rx: Tỷ lệ mắc đặc trưng theo tuổi của nhóm tuổi x.
  • Wx: Dân số chuẩn Thế giới thuộc nhóm tuổi x.

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN:

      Bảng 1a, bảng 1b trình bày các kết quả chính của nghiên cứu này: Tỷ lệ mắc thô, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi và tỷ lệ mắc đặc trưng theo nhóm tuổi 10 năm. Trong giai đoạn từ 01/01/1996 đến 31/12/1999 tổng số 4803 ca ung thư mới ở nữ giới và 5846 ca mới ở nam giới đã được ghi nhận. Tỷ lệ mắc thô ở nữ giới là 94,3 trên 100.000, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 98,4 trên 100.000 dân. Tỷ lệ mắc thô ở nam giới là 111,4 trên 100.000, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 139,0 trên 100.000 dân.

      Hình 1a trình bày mười loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới Hà Nội trong thời gian 1996-1999. Ở nam giới, ung thư phổi đứng hàng đầu, thứ hai là ung thư dạ dày, tiếp theo là ung thư gan, ung thư đại trực tràng, ung thư vòm họng, U limpho không phải Hodgkin, bệnh bạch cầu, thực quản, da và khoang miệng.

      Hình 1b trình bày mười loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Hà Nội, đứng đầu là ung thư vú, thứ hai là ung thư dạ dày, tiếp theo là ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ung thư cổ tử cung, ung thư gan, buồng trứng, vòm họng, U limpho không phải Hodgkin và ung thư da.

      Bảng 2 so sánh sự thay đổi về tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của một số ung thư phổ biến giữa hai giai đoạn 1991-1995 và 1996-1999. So sánh với tỷ lệ mắc ung thư giai đoạn 1991-1995, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi giảm nhẹ ở nam giới (mức giảm 0,5% / năm) trong khi đó lại tăng ở nữ giới (tăng 1,6% / năm).

      Ung thư phổi: Vẫn là loại ung thư đứng hàng đầu ở nam giới. Số ca ghi nhận trong 4 năm là 1247, chiếm 21,3% tổng số ca ghi nhận. Tỷ lệ mắc thô là 23,8 trên 100.000 dân, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 30,7 trên 100.000. Ở nữ giới, ung thư phổi đứng hàng thứ tư, chiếm 6,5% tổng số ca ghi nhận. Tỷ lệ mắc thô là 6,1 trên 100.000 dân, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 6,7 trên 100.000 dân. Ung thư phổi gặp nhiều ở nam giới so với nữ giới. Tỷ suất tỷ lệ nam:nữ là 4,5:1. Sự chênh lệch về giới rõ nét hơn ở các quốc gia phát triển. Tỷ lệ mắc tăng nhanh sau tuổi 45 ở cả hai giới nhưng có phần chững lại ở nam giới và giảm đi ở nữ giới sau tuổi 75. Có thể do người già ít có cơ hội khám chữa bệnh. Do thiếu các số liệu từ nguồn thống kê tử vong nên các trường hợp ung thư phổi của người già đã không được chẩn đoán và thống kê đầy đủ. So với tỷ lệ mắc trung bình giai đoạn 1991-1995, tỷ lệ ung thư phổi ở nam giới giảm nhẹ khoảng –1,6 % / năm trong khi ở nữ giới tỷ lệ này hầu như không đổi. Còn sớm để có thể nói rằng đây là một xu thế ổn định do tác động của sự thay đổi về hành vi. So với số liệu của một số quần thể trong khu vực và trên Thế giới cho thấy tuy ung thư phổi là loại ung thư hàng đầu của nam giới Hà Nội, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với các quốc gia phát triển trong khu vực và trên Thế giới. Tỷ lệ mắc ung thư phổi ở Hà Nội cao hơn ở thành phố Hồ Chí Minh, gần với số liệu của Chiêng mai, tuy nhiên tỷ lệ mắc ở phụ nữ lại thấp hơn rất nhiều. Các nghiên cứu về tình hình hút thuốc ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ hút thuốc ở nam giới Việt Nam rất cao trong khi tỷ lệ này lại tương đối thấp ở phụ nữ. Để ngăn ngừa sự bùng phát của dịch bệnh ung thư phổi và các loại ung thư liên quan đến thuốc lá, các chương trình phòng chống thuốc lá cần được tiến hành rộng rãi thường xuyên hơn và tập trung vào quần thể đích là lứa tuổi thanh thiếu niên với những hình thức giáo dục phù hợp và có hiệu quả hơn.

      Ung thư dạ dày: Là loại ung thư đứng hàng thứ hai ở cả hai giới, với tỷ lệ mắc thô ở nam giới là 20,7 trên 100.000 dân và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 26,6 trên 100.000 có 1088 ca, chiếm 18,6% tổng số ca được ghi nhận. Ở nữ giới, tỷ lệ mắc thô là 12,4 trên 100.000 dân và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 13,1 trên 100.000 có 632 ca, chiếm 13,2% tổng số ca được ghi nhận. Tỷ suất tỷ lệ nam:nữ là 3,6:1. Tỷ lệ mắc bắt đầu tăng nhanh ở cả hai giới sau tuổi 45, song nữ giới lại giảm xuống sau tuổi 75. Tình trạng này cũng cho thấy ở người già, nhất là phụ nữ chưa được hoàn toàn hưởng sự công bằng về cơ hội khám chữa bệnh nhất là đối với các loại bệnh có tiên lượng nặng nề như ung thư. So sánh với giai đoạn 1991-1995, tỷ lệ ung thư dạ dày tăng  ở cả hai giới (mức tăng trung bình khoảng 4,4% / năm). Hà Nội có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày tương đối cao, tỷ lệ ung thư dạ dày ở Hà Nội chỉ thấp hơn nhóm các cộng đồng ở Bắc và Đông Bắc Á, tương tự như tỷ lệ của người Hoa ở Singapo và Hồng Kông nhưng cao hơn ở Thái Lan. Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày của Hà Nội cũng cao hơn của thành phố Hồ Chí Minh. Nhiễm trùng HP hiện nay được coi là yếu tố nguy cơ chủ yếu của ung thư dạ dày. Việt Nam nằm trong vùng có tỷ lệ nhiễm HP cao. Chiến lược phòng ngừa hiện nay đối với ung thư dạ dày vẫn là ngăn ngừa tình trạng nhiễm HP và hạn chế những loại thực phẩm có thành phần Nitrat và Nitrit cao cũng như đồ ăn muối, hun khói. . . .

      Ung thư gan: Đứng hàng thứ ba ở nam giới (tỷ lệ mắc thô là 14,2 trên 100.000 dân và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 17,5 trên 100.000 có 747 ca, chiếm 12,8% tổng số ca được ghi nhận); và thứ sáu ở nữ giới (tỷ lệ mắc thô là 4,6 trên 100.000 dân và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 4,9 trên 100.000 có 236 ca, chiếm 4,9% tổng số ca được ghi nhận). Tỷ suất tỷ lệ nam:nữ là 3,6:1. Tỷ lệ mắc bắt đầu tăng nhanh ở cả hai giới sau tuổi 35, đạt tới đỉnh cao sau tuổi 65 nhưng chững lại ở nam giới và nữ giới lại giảm xuống sau tuổi 75.  So sánh với giai đoạn 1991-1995, ung thư gan có xu hướng giảm nhẹ ở nam giới nhưng không đổi ở nữ giới. Việt Nam nằm trong vùng có nguy cơ ung thư gan cao, tuy nhiên tỷ lệ mắc ung thư gan của Hà Nội thấp hơn so với của thành phố Hồ Chí Minh, Thái Lan, Singapo, Philippine và các cộng đồng Bắc Á. Nguyên nhân chủ yếu của ung thư gan nguyên phát được xác định là nhiễm trùng HBV và HCV. Việt Nam nằm trong vùng có tỷ lệ nhiễm hai loại vi rút trên trong cộng đồng  tương đối cao. Chiến lược chủ yếu hiện nay trong phòng chống ung thư gan nguyên phát là tiêm phòng HBV, tuy nhiên với HCV chưa có biện pháp phòng bệnh đặc hiệu nào. Chiến lược chủ yếu vẫn là giáo dục tình dục và truyền máu an toàn.

      Ung thư đại trực tràng: Đứng hàng thứ tư ở nam giới (tỷ lệ mắc thô là 8,4 trên 100.000 dân và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 10,3 trên 100.000 có 442 ca, chiếm 7,6% tổng số ca được ghi nhận); và thứ ba ở nữ giới (tỷ lệ mắc thô là 6,9 trên 100.000 dân và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 7,3 trên 100.000 có 352 ca, chiếm 7,3% tổng số ca được ghi nhận). Tỷ suất tỷ lệ nam:nữ là 1,4:1. Tỷ lệ mắc bắt đầu tăng nhanh sau tuổi 35, đạt tới đỉnh cao sau tuổi 65, giảm dần sau tuổi 75 ở cả hai giới. Cũng như đối với các loại ung thư khác, xu hướng giảm nhẹtỷ lệ chẩn đoán ở người già chỉ ra khiếm khuyết của số liệu do thiếu các số liệu từ nguồn thống kê tử vong. So sánh với giai đoạn 1991-1995, tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng tăng ở cả hai giới, đặc biệt là nữ giới. Khi so sánh với số liệu Quốc tế chúng tôi chỉ sử dụng số liệu ung thư đại trực tràng. Tỷ lệ ung thư đại trực tràng thấp hơn nhiều so với các nước phát triển nhưng lại gần với tỷ lệ của Thái Lan. Cũng không có sự khác biệt lớn về tỷ lệ mắc loại ung thư này giữa Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

      Ung thư vòm họng: Đứng hàng thứ năm ở nam giới (tỷ lệ mắc thô là 6,0 trên 100.000 dân và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 7,2 trên 100.000 có 317 ca, chiếm 5,4% tổng số ca được ghi nhận); và thứ ba ở nữ giới (tỷ lệ mắc thô là 3,9 trên 100.000 dân và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 4,0 trên 100.000 có 197 ca, chiếm 4,1% tổng số ca được ghi nhận). Tỷ suất tỷ lệ nam:nữ là 1,8:1. Tỷ lệ mắc bắt đầu tăng nhanh sau tuổi 25, đạt tới đỉnh ở nam giới sau 65 tuổi, nhưng ở nữ giới lại có xu hướng giảm đi sau tuổi 75. So sánh với giai đoạn 1991-1995, ung thư vòm có xu hướng giảm ở cả hai giới nhưng rõ nét hơn ở nam giới. Hà Nội cũng có tỷ lệ mắc ung thư vòm cao rõ rệt so với thành phố Hồ Chí Minh và Thái Lan. Gần với tỷ lệ của Philippine nhưng lại thấp hơn so với các cộng đồng người Hoa trong khu vực.

      Ung thư vú: Đứng hàng đầu ở phụ nữ với tỷ lệ mắc thô là 20,0 và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 20,9 có 1016 ca, chiếm 21,2% tổng số ca được ghi nhận. Đây là loại ung thư rất hiếm gặp ở nam giới nhưng lại rất phổ biến ở nữ giới. Tỷ suất tỷ lệ nữ:nam là 23:1. Tỷ lệ mắc bắt đầu tăng nhanh sau tuổi 35, đạt tới đỉnh cao ở lứa tuổi trước và sau mãn kinh (45-54 tuổi) rồi có xu hướng giảm nhẹ. So sánh với giai đoạn 1991-1995, tỷ lệ mắc ung thư vú tăng lên. Tỷ lệ mắc ung thư vú ở người Hà Nội thấp hơn các cộng đồng của các nước trong khu vực nhưng cao hơn thành phố Hồ Chí Minh và Thái Lan.

      Ung thư cổ tử cung: Chỉ đứng hàng thứ năm ở phụ nữ Hà Nội. Đặc điểm này rất khác biệt so với đặc điểm ung thư của các nước đang phát triển, nơi mà trong phần lứon các trường hợp, ung thư cổ tử cung chiếm vị trí hàng đầu. Tỷ lệ mắc thô là 5,4 và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 5,5 có 273 ca, chiếm 5,7% tổng số ca được ghi nhận. So sánh với giai đoạn 1991-1995, ung thư cổ tử cung có xu hướng giảm nhẹ. Tỷ lệ mắc tăng nhanh sau tuổi 35 và giảm dần sau tuổi 75. Cũng như các số liệu trước đây đã chứng minh, có sự khác biệt lớn về tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung giữa Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.Tỷ lệ ung thư cổ tử cung ở Hà Nội cũng thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ ung thư của các quần thể trong khu vực và gần với tỷ lệ của các nước phát triển.

KẾT LUẬN:

      Trong giai đoạn 1996-1999, tỷ lệ mắc trung bình hàng năm của mọi ung thư ở nam giới Hà Nội là 111,4 trên 100.000 dân và ở nữ giới là 94,3 trên 100.000 dân. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 139,0 và 98,4. Ung thư phổi, dạy dày, gan, đại trực tràng và vòm là những ung thư hàng đầu ở nam giới. Ung thư vú, dạ dày, đại trực tràng, phổi và cổ tử cung là các ung thư hàng đầu ở nữ giới. So sánh với giai đoạn 1991-1995, ung thư thực quản, dạ dày, đatị trực tràng, tiền liệt tuyến, vú và buồng trứng có xu hướng tăng, trong khi ung thư gan, phổi, vòm họng và cổ tử cung có xu hướng giảm nhẹ. Hà Nội thuộc vùng có nguy cơ ung thư dạ dày, gan, vòm họng cao trong khi ung thư vú, đại trực tràng, cổ tử cung, tiền liệt tuyến lại thấp.

Bảng 2: So sánh tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi một số ung thư ở Hà Nội

giữa hai giai đoạn 1991-1995 và 1996-1999

Vị trí Nam Nữ
91-95 96-99 mức % TĐ/ năm 91-95 96-99 mức% TĐ/ năm
Miệng 2,5 2,6 + 0,9 2,4 2,3 – 0.9
Phổi, Phế quản 33.2 30.7 –  1,6 6,8 6,7 – 0,3
Thực quản 2.0 3.9 + 21.0 0,6 0,6
Dạ dày 22,2 26,6 + 4,4 10,9 13,1 + 4,4
Gan 19,4 17,5 –  2,2 4,8 4,9  
Đại trực tràng 9,1 10,3 + 2,9 5,2 7,3 +9,0
Vòm họng 10,2 7,2 –  6,5 4,6 4,0 – 2,9
Tiền liệt tuyến 1,2 1,8 + 11,1      
U lympho không Hodgkin 6.3 6.0 – 1,0 2,9 3,2 + 2,2
      18,6 20,9 +2,7
Cổ tử cung       6.3 5.5 – 2.8
Buồng trứng       2,8 4,4 +12,6
Mọi ung thư 142,4 139.0 -0,5% 91,7 98,4 + 1,6

Hình 1: Mười loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới Hà Nội, giai đoạn 1996-1999

Hình 2: Mười loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Hà Nội, giai đoạn 1996-1999

11

No Responses

Write a response