Thống kê về bệnh Ung thư ở Việt Nam

Tình hình bệnh Ung thư ở Việt Nam năm 2000

1- Đặt vấn đề:

      Hiểu biết về gánh nặng và đặc điểm bệnh ung thư của một quốc gia là điều kiện tiên quyết để có thể xây dựng một chương trình phòng chống ung thư có hiệu quả. Những số liệu chính mô tả đặc điểm bệnh ung thư bao gồm tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong, số trường hợp mắc và tử vong và vị trí vai trò của từng loại ung thư trong cộng đồng. Các số liệu về tình hình tử vong thường được lấy từ các thống kê tử vong của mọi quốc gia. Số liệu về tình hình mắc chỉ có thể có được thông qua việc tổ chức các Ghi nhận Quần thể Ung thư (GNQTUT). Trên thế giới, hầu hết các nước phát triển đều có đầy đủ hai loại số liệu này, tuy nhiên ở các nước đang phát triển, vì nhiều lý do khác nhau, các số liệu trên thường không đầy đủ.

      Ở Việt nam, trước những năm 90, các số liệu về tình hình ung thư được công bố rất ít ỏi và thường là các thống kê về tần xuất các ung thư đến khám/chữa tại một hay một vài bệnh viện. Năm 1988 lần đầu tiên tại Việt nam tổ chức một GNQTUT tại thành phố Hà Nội dưới sự giúp đỡ của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC). Năm 1990, một GNQTUT cũng đã được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh. Các số liệu của hai GNQTUT nói trên đã lần lượt được công bố cho biết về tình hình mắc ung thư của nhân dân sống tại hai thành phố trên. Một số tác giả nước ngoài cũng đã tiến hành nghiên cứu tình hình mắc ung thư của người Việt Nam di cư sang các quốc gia khác. Các số liệu về tình hình ung thư của một quốc gia được ước tính dựa trên các số liệu của các GNQTUT đã được tổ chức tại quốc gia đó. IARC đã ước tính tình hình ung thư ở Việt Nam năm 1990 dựa trên số liệu của Ghi nhận ung thư Hà Nội. Việc ước tính gánh nặng bệnh ung thư cần phải được làm thường xuyên và dựa trên càng nhiều các số liệu của các ghi nhận quần thể càng tốt.

      Trong báo cáo này, chúng tôi sử dụng số liệu của hai GNQTUT Hà Nội và TPHCM giai đoạn 1995-1996 để ước tính tình hình ung thư ở Việt Nam năm 2000.

2- Mục tiêu:

      Dựa vào số liệu của GNQTUT Hà Nội và TPHCM ước tính:

  • Tỷ lệ mắc ung thư ở Việt Nam năm 2000 theo giới, tuổi và vị trí.

  • Số trường hợp ung thư mới được phát hiện năm 2000 theo giới tuổi, vị trí.

  • Vị trí và vai trò của một số ung thư hay gặp.

3- Đối tượng và Phương pháp:

      Phương pháp ghi nhận quần thể mà hai GNQTUT đã sử dụng để thu thập số liệu đã được mô tả tại các công trình đã được công bố. Chúng tôi xin tóm tắt lại như sau:

      GNQTUT là việc thu thập một cách hệ thống, thường xuyên và liên tục các trường hợp ung thư được chẩn đoán trong một cộng đồng xác định theo một phương pháp thống nhất nhằm cung cấp hình ảnh chính xác nhất về tình hình bệnh ung thư trong cộng đồng đó.

      GNQTUT Hà Nội được tiến hành cho địa bàn thành phố Hà Nội với dân số ước tính vào năm 1995 là 2.217.028 bao gồm 4 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành. GNQTUT TPHCM được tiến hành trên địa bàn TP HCM với dân số trung bình năm 1995 là 4.820.142, bao gồm 12 quận nội thành và 6 huyện ngoại thành.

      Trừ các bệnh viện tuyến huyện, nơi không có các điều kiện cần thiết tối thiểu để chẩn đoán bệnh ung thư (chẩn đoán tế bào) và hầu hết các trường hợp ung thư đều được chuyển lên tuyến trên, tất cả các bệnh viện chuyên khoa, các viện nghiên cứu có giường bệnh đều được mời tham gia cung cấp số liệu. Tại Hà Nội có 22 bệnh viện tuyến trung ương và thành phố tham gia, tại thành phố Hồ Chí Minh có 26 bệnh viện tham gia cung cấp số liệu. Cả hai nơi đều sử dụng phương pháp ghi nhận chủ động (nghĩa là cán bộ ghi nhận chủ động tới các cơ sở tìm và khai thác số liệu). Nguồn số liệu chủ yếu là hồ sơ bệnh án, sổ ghi kết quả của khoa GPB- tế bào, sổ ra vào viện, sổ khám bệnh, sổ ghi kết quả các khoa nội soi, siêu âm, sổ ghi nhận tử vong tại bệnh viện.

      Số liệu về tình hình tử vong trong cộng đồng đã không được thu thập do các ghi nhận tử vong hiện nay không có mục phân loại tử vong theo nguyên nhân bệnh tật.

      Các thông tin thu thập bao gồm các thông tin về người bệnh, bệnh, ngày chẩn đoán, cơ sở của chẩn đoán (dựa vào phương pháp nào), phương pháp điều trị ban đầu.

      Các thông tin về từng trường hợp UT được chẩn đoán được ghi trên một phiếu thống kê.

      Tất cả các trường hợp có địa chỉ thường trú tại Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh được chẩn đoán lần đầu là “ung thư” hoặc “u ác tính”, bệnh bạch cầu cấp và mạn tính tại một trong các đơn vị tham gia ghi nhận trong giai đoạn từ 1/1/1995 đến 31/12/1996 đều được ghi nhận kể cả các trường hợp chỉ có chẩn đoán lâm sàng đơn thuần và những trường hợp được chẩn đoán là ung thư sau khi tử vong. Các ung thư tại chỗ (in situ), các u “nghi ung thư”, u không rõ bản chất lành hay ác cũng được thu thập và ghi nhận nhưng không được đưa vào các bảng tính toán về tỷ lệ mắc. Như vậy, các số liệu được báo cáo ở đây chỉ bao gồm các trường hợp được coi là ung thư xâm lấn.

      Việc xử lý thông tin tuân theo một quy trình thống nhất do Hiệp hội Ghi nhận ung thư khuyến cáo sử dụng phần mềm CANREG-3. Với sự giúp đỡ của máy tính, sử dụng các thông tin về người bệnh, việc “lọc trùng lặp” sẽ được tiến hành (máy tính đưa ra các trường hợp có nhiều khả năng là trùng với trường hợp vừa ghi nhận để có thể cân nhắc và ra quyết định). Các thông tin đưa vào sẽ được kiểm tra chất lượng và độ tin cậy, sử dụng phương pháp kiểm tra chéo để phát hiện các mâu thuẫn, bất hợp lý của số liệu (giới-loại ung thư; tuổi-loại ung thư; vị trí u-chẩn đoán vi thể)

      Tính toán tỷ lệ mắc ung thư cho mọi cộng đồng:

      Tỷ lệ mắc thô theo giới/nhóm tuổi của mọi vị trí ung thư và chung cho mọi ung thư được tính toán cho mọi quần thể sử dụng phần mềm CANREG

                                                                                  TS trường hợp UT theo giới/tuổi/vị trí/ năm

     Tỷ lệ mắc thô theo giới/nhóm tuổi/vị trí = ——————————————————— x 100000

                                                                               TS dân trong quần thể thuộc giới/nhóm tuổi đó

      Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi đối với mọi vị trí ung thư và mọi ung thư gộp lại được tính theo phương pháp chuẩn trực tiếp với dân số chuẩn là dân số thế giới

      Ước tính tình hình ung thư của người Việt Nam năm 2000 dựa trên các giả định sau đây:

  • Tỷ lệ mắc ung thư của Việt nam không tăng đáng kể trong khoảng thời gian 1995-2000.

  • Cấu trúc tuổi của dân số trung bình Hà Nội, TP Hồ Chí Minh không khác biệt nhiều so với cấu trúc tuổi của dân số Việt nam.

  • Tỷ lệ ghi nhận số ca ung thư được chẩn đoán của hai quần thể đều cao (ghi nhận đầy đủ).

  • Tình hình ung thư tại TP Hồ Chí Minh có thể đại diện cho khu vực phía Nam. Tình hình ung thư tại Hà Nội có thể đại diện cho khu vực phía Bắc.

      Việc ước tính được tiến hành như sau:

      Tỷ lệ mắc đặc trưng theo nhóm tuổi cho từng giới của mọi loại ung thư của Việt nam được ước tính bằng giá trị trung bình của tỷ lệ đặc trưng nhóm tuổi của Hà Nội và TPHCM

      Số trường hợp ung thư kỳ vọng cho mọi nhóm tuổi của một giới và một vị trí ung thư và của mọi ung thư gộp lại được ước tính bằng cách lấy tỷ lệ đặc trưng theo nhóm tuổi trung bình tương ứng nói trên nhân với dân số Việt Nam năm 2000 thuộc giới /nhóm tuổi đó

      Tỷ lệ mắc thô cho mọi vị trí ung thư được ước tính bằng số trường hợp ung thư ước tính cho mọi nhóm tuổi (bằng tổng các trường hợp ung thư kỳ vọng cho mọi nhóm tuổi) của vị trí ung thư đó chia cho dân số Việt Nam năm 2000.

      Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi được ước tính theo phương pháp chuẩn trực tiếp sử dụng dân số chuẩn thế giới.

4- Kết quả và bàn luận:

      Một trong những giả định quan trọng để tỷ lệ mắc ung thư ước tính phản ánh sát thực tế là số liệu ghi nhận phải đầy đủ nghĩa là phải thu thập được tất cả các trường hợp ung thư được chẩn đoán trong cộng đồng. Tính đầy đủ của số liệu thường được đánh giá thông qua việc tính tỷ lệ các trường hợp ung thư ghi nhận được chỉ dựa trên chứng chỉ tử vong. Tuy nhiên ở Việt Nam  chưa thực hiện được việc đăng ký tử vong theo nguyên nhân bệnh tật. Một phương pháp khác được giới chuyên môn đề xuất là phương pháp “bắt đi bắt lại” (“capture recapture”) nghĩa là kiểm tra lại các nguồn số liệu xem có bỏ sót không.

      Phương pháp này được ghi nhận ung thư Hà Nội tiến hành định kỳ hàng năm. Ghi nhận ung thư thành phố Hồ Chí Minh hiện vẫn đang trên quá trình hoàn thiện hệ thống cung cấp thông tin. Vẫn còn một vài bệnh viện chưa tham gia ghi nhận nên có thể có một tỷ lệ nhất định các ung thư được chẩn đoán nhưng chưa được ghi nhận. Một hiện tượng phổ biến ở các nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam là những người già thường ít có cơ hội đi khám chứa bệnh, nếu bị mắc ung thư họ có thể tử vong tại nhà mà không được chẩn đoán. Việc thiếu chứng chỉ tử vong như một nguồn thông tin ghi nhận sẽ khiến cho có một số trường hợp ung thư đã bị bỏ qua. Vì vậy, tỷ lệ mà báo cáo này đưa ra chỉ là con số tối thiểu.

      Tính tin cậy của số liệu được đánh giá thông qua một số chỉ số trong đó có tỷ lệ các trường hợp có chẩn đoán vi thể (bao gồm cả chẩn đoán tế bào). Tỷ lệ này là 57% tại Ghi nhận ung thư Hà Nội và 67% tại Ghi nhận ung thư Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn trên. Tỷ lệ này đặc trưng cho các nước đang phát triển nơi hệ thống chẩn đoán vi thể chưa thật phát triển.

      Bảng 1a và bảng 1b trình bày tỷ lệ mắc thô, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi trung bình một năm và số ca ghi nhận được tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong hai năm 1995-1996; tỷ lệ mắc thô, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi và số ca kỳ vọng cho một số ung thư của Việt Nam năm 2000. Số trường hợp ung thư xuất hiện trong cả nước vào năm 2000 ước tính khoảng 36024 trường hợp ở nam giới và 32786 trường hợp ở nữ giới. Tỷ lệ mắc thô cho mọi ung thư gộp lại không kể ung thư da ở nam giới là 91,5 trên 100000 dân, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 141,6 trên 100000  dân. Ở nữ giới tỷ lệ mắc thô là 81,5 trên 100000 và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 101,6 trên 100000.

      Tỷ lệ mắc này tương tự của các nước đang phát triển và trong khu vực và thấp hơn so với các nước phát triển.

      Hình 1a và hình 1b trình bày tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của 10 loại ung thư hay gặp nhất của Việt nam ở nữ giới và Nam giới.

      Ở nam giới ung thư phổi đứng hàng đầu, với tỷ lệ mắc thô là 17.5 và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 29.3 trên 100000 dân. Năm 2000 ước tính đã có khoảng 6905 trường hợp ung thư phổi xuất hiện trong cả nước. Đứng thứ hai ở nam giới là ung thư dạ dày với tỷ lệ mắc thô là 14.5 và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 23.7 trên 100000 dân. Năm 2000 ước tính có khoảng 5711 trường hợp ung thư dạ dày đã được chẩn đoán trong cả nước. Đứng tiếp theo là các loại ung thư gan, đại trực tràng, vòm họng.

      Ở nữ giới ung thư vú đứng hàng đầu với tỷ lệ mắc thô là 13.8 và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 17.4 trên 100000. Ước tính năm 2000 có khoảng 5538 trường hợp ung thư vú mới. Đứng hàng thứ hai nhưng có tỷ lệ mắc sát nút là ung thư cổ tử cung với tỷ lệ mắc thô là 13.1 và tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 17.3 trên 100000. Ước tính năm 2000 có khoảng 5260 trường hợp ung thư cổ tử cung mới trong cả nước. Tiếp theo là các ung thư dạ dày (CR 14.5; ASR 23.7; số ca mới 5711), đại trực tràng (CR 7.3; ASR 11.4; số ca mới 2878) và ung thư phổi  (CR 5.0; ASR 6.5; số ca mới 2001).

      Đặc điểm một số ung thư hay gặp:

      Bảng 2 so sánh tình hình mắc ung thư của một số quần thể được ghi nhận trên thế giới. Nguồn số liệu để so sánh của các nước được lấy từ quyển: “Tỷ lệ mắc ung thư năm châu” tập VII.

Ung thư phổi: Là loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới Việt Nam (ASR 29.3 trên 100000) và ở Hà Nội (ASR 33.1 trên 100000), đứng hàng thứ hai ở nam giới thành phố Hồ Chí Minh (ASR 24.6 trên 100000 dân) Tuy nhiên, tỷ lệ này tương đối thấp so với các ghi nhận khác trong khu vực và trên thế giới. Sự khác biệt một phần có thể giải thích do loại ung thư này gặp nhiều ở tuổi già, những người ít có cơ hội được chẩn đoán. Họ có thể chết tại nhà nhưng do không có hệ thống chứng chỉ tử vong theo nguyên nhân bệnh tật nên đã không được chẩn đoán và ghi nhận. Hút thuốc là nguyên nhân chủ yếu của loại ung thư này. Hút thuốc cũng là thói quen phổ biến của lớp trẻ ở Việt Nam hiện nay. Theo một nghiên cứu gần đây, hút thuốc lào ở Việt Nam cũng có thể là một nguyên nhân của ung thư phổi.

Ung thư gan: Đây là loại ung thư đứng thứ ba ở nam giới (ASR 22.6 trên 100000) và thứ sáu ở nữ giới (ASR 5.8 trên 100000) Việt Nam. Đây là loại ung thư hàng đầu ở nam giới TP Hồ Chí Minh. Tỷ lệ mắc loại ung thư này ở đây cũng cao hơn ở Hà Nội nơi loại ung thư này đứng thứ ba. Tuy nhiên ở phụ nữ tỷ lệ ở hai nơi lại tương tự.

       Việt nam nằm trong khu vực có tỷ lệ mắc ung thư gan nguyên phát cao do có tỷ lệ nhiễm trùng HBV và HCV cao. Tỷ lệ ung thư gan tương đối giống với tỷ lệ của các nước trong khu vực.

Ung thư dạ dày: Đứng hàng thứ hai ở nam giới Việt Nam (ASR 23.7 trên 100000) và thứ ba ở nữ (ASR 10.8 trên 100000). Tỷ lệ này ở Hà Nội cao gấp 2 lần ở TP Hồ Chí Minh. Lý do của sự khác biệt chưa rõ. Có thể có một số bệnh viện có nhận điều trị loại ung thư này nhưng lại chư tham gia vào việc cung cấp số liệu. Tỷ lệ mắc ung thư dại dày ở Hà Nội tương tự như của các quần thể người Hoa trong khu vực.

Ung thư vòm: Việt nam nằm trong khu vực có tỷ lệ ung thư vòm cao (ASR là 7.5 ở nam giới và 3.2 ở nữ giới). Tỷ lệ của ung thư này ở Hà Nội (ASR 10.7 ở nam giới, 5.1 ở nữ giới trên 100000) cũng cao hơn ở thành phố Hồ Chí Minh (ASR là 5.1 và 1.5). Nguyên nhân của sự khác biệt này cũng chưa rõ.

Ung thư vú: Mặc dù đây là ung thư hàng đầu ở phụ nữ Việt Nam nhưng tỷ lệ mắc ở người Việt Nam lại tương đối thấp so với số liệu của các nước phát triển và gần với một số quần thể nguy cơ thấp  trong khu vực (ASR 17.4 trên 100000). Đây là loại ung thư hàng đầu ở phụ nữ Hà Nội. Tỷ lệ ở đây cũng cao hơn ở thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà ung thư này chỉ đứng hàng thứ hai sau ung thư cổ tử cung.

Ung thư cổ tử cung: Đây là ung thư đứng hàng thứ hai ở phụ nữ Việt Nam, tuy nhiên tỷ lệ mắc rất gần với ung thư vú. Tỷ lệ mắc ở thành phố Hồ Chí Minh rất đặc thù cho các quần thể có nguy cơ cao trong khu vực nhưng lại cao gấp 4 lần so với tỷ lệ này ở Hà Nội. Tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung ở Hà Nội gần với của các quần thể có nguy cơ thấp.

      Một nghiên cứu gần đây tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh về tỷ lệ nhiễm trùng HPV – nguyên nhân hàng đầu của ung thư cổ tử cung cho thấy tỷ lệ này ở TP Hồ Chí Minh cao gấp 4 lần ở Hà Nội.

      Những khó khăn của hoạt động ghi nhận ung thư ở Việt Nam

      Những số liệu của các ghi nhận ung thư là thiết yếu cho việc xây dựng chương trình phòng chống ung thư và hình thành các giả thuyết trong nghiên cứu. Việc tính toán gánh nặng ung thư của quốc gia chỉ dựa trên hai ghi nhận quần thể (chiếm khoảng 10% dân số cả nước) sẽ còn nhiều khiếm khuyết do thiếu tính đại diện. Vì vậy, cần thiết phải tiến hành nhiều ghi nhận quần thể ung thư ở các địa phương khác ở Việt Nam. Những khó khăn cản trở hiện nay trong việc tổ chức các ghi nhận quần thể ở Việt Nam là:

1. Ít được quan tâm từ phía các nhà quản lý

2. Thiếu kinh phí và nguồn nhân lực

3. Chất lượng của nguồn số liệu ban đầu còn nhiều vấn đề phải bàn

4. Dân cư và phân chia địa giới hành chính chưa ổn định

5. Thiếu số liệu về tình hình tử vong

6. Sự giống nhau về tên họ của người Việt Nam.

Bảng 1a: Tỷ lệ mắc ung thư tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Việt Nam

trên 100.000 dân, nam giới

                   Vị trí

Hà Nội 1995-1996

TP HCM 1995-1996

Việt Nam 2000 (ước tính)

Tỷ lệ thô

Tỷ lệ chuẩn

Tổng số

Tỷ lệ thô

Tỷ lệ chuẩn

Tổng số

Tỷ lệ thô

Tỷ lệ chuẩn

Tổng số

Miệng

51

2.4

2.7

125

2.7

4.1

883

2.2

3.5

Vòm họng

192

8.8

10.7

170

3.7

5.1

2006

5.1

7.5

Họng khác

38

1.7

2.2

99

2.1

3.3

653

1.7

2.7

Thực quản

43

2

2.6

109

2.4

3.9

817

2.1

3.7

Dạ dày

509

23.3

29.8

495

10.8

16.5

5711

14.5

23.7

Đại trực tràng

194

8.9

11.2

299

6.6

9.5

2878

7.3

11.4

Gan

335

15.3

18.9

803

17.5

25.3

5787

14.7

22.6

Tuị

17

0.8

1

64

1.4

2.2

385

1.0

1.6

Thanh quản

26

1.2

1.5

110

2.4

3.9

620

1.6

2.7

Phế quản, phổi

559

25.6

33.1

724

15.8

24.6

6905

17.5

29.3

K hắc tố da

3

0.1

0.2

3

0.1

0.1

44

0.1

0.2

Tiền liệt tuyến

23

1.1

1.5

65

1.4

2.3

490

1.2

2.2

Não, hệ thần kinh

12

0.5

0.6

83

1.8

2.2

421

1.1

1.3

Giáp trạng

26

1.2

1.3

36

0.8

1.1

339

0.9

1.3

Bệnh Hodgkin

28

1.3

1.3

12

0.3

0.4

249

0.6

0.8

U Limphô ác tính không Hodgkin

133

6.1

7.0

95

2.1

2.8

1420

3.6

4.9

Leukaemia

96

4.4

4.7

163

3.5

4.0

1553

3.9

4.3

Mọi UT không kể UT da

2632

120.6

149.8

3978

86.8

127.4

36024

91.5

141.6

Bảng 1b: Tỷ lệ mắc ung thư tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Việt Nam

trên 100.000 dân, nữ giới

Vị trí

Hà Nội 1995-1996

TPHCM 1995-1996

Việt Nam 2000 (ước tính)

Tỷ lệ thô

Tỷ lệ chuẩn

Tổng số

Tỷ lệ thô

Tỷ lệ chuẩn

Tổng số

Tỷ lệ thô

Tỷ lệ chuẩn

Tổng số

Miệng

58

2.6

2.9

135

2.6

3.0

857

2.1

2.7

Vòm họng

107

4.7

5.1

75

1.5

1.5

1099

2.7

3.2

Họng khác

16

0.7

0.8

26

0.5

0.6

233

0.6

0.7

Thực quản

15

0.7

0.6

28

0.6

0.6

206

0.5

0.6

Dạ dày

263

11.7

12.9

319

6.3

7.5

3418

8.5

10.8

Đại trực tràng

134

6.0

6.8

345

6.8

8.3

2566

6.4

8.3

Gan

118

5.2

5.8

254

5.0

5.9

1861

4.6

5.8

Tụy

10

0.4

0.5

51

1.0

1.2

290

0.7

1.0

Thanh quản

6

0.3

0.3

15

0.3

0.4

91

0.2

0.3

Phế quản, phổi

115

5.1

5.8

285

5.6

6.8

2001

5.0

6.5

K hắc tố da

6

0.3

0.3

3

0.1

0.1

56

0.1

0.1

Vể

440

19.5

21.8

523

10.3

12.2

5538

13.8

17.4

Cổ tử cung

135

6

6.8

1059

20.9

26.0

5260

13.1

17.3

Thân tử cung

30

1.3

1.6

108

2.1

2.7

709

1.8

2.4

Buồng trứng

106

4.7

5.0

170

3.4

3.7

1494

3.7

4.4

Não., hệ thần kinh

9

0.4

0.4

64

1.2

1.4

305

0.8

0.8

Giáp trạng

48

2.1

2.1

108

2.1

2.1

821

2.0

2.3

U Limphô không Hodgkin

54

2.4

2.5

92

1.8

2.1

828

2.1

2.4

Bệnh Hodgkin

14

0.6

0.6

7

0.1

0.2

121

0.3

0.3

Leukaemia

64

2.8

2.8

164

3.3

3.6

1191

3.0

3.2

Mọi UT không kể UT da

2037

91.4

99.8

4209

83.2

97.8

32786

81.5

101.6

Bảng 2: Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi tính trên 100000 dân

của một số ung thư tại một số vùng trên thế giới

Vị trí ung thư

Giới

Việt Nam

Thái lan

Singapor

Philippines

Trung Quốc

Mỹ

Hà Nội

TP HCM

Chieng mai

Chinese

Manila

Hong Kong

Shanghai

SEER

Mọi UT trừ K da

Nam

149.8

127.4

144.2

258.0

215.5

301.7

228.8

370.9

Nữ

99.8

97.8

152.6

194.6

193.8

211.1

153.2

280.9

Phổi

Nam

33.1

24.6

36.0

62.7

58.7

74.7

56.1

61.3

Gan

Nam

18.9

25.3

20.1

22.1

23.9

36.2

28.2

3.0

Nữ

5.8

5.9

9.7

5.8

8.0

9.5

9.8

1.2

Dạ dày

Nam

29.8

16.5

7.5

29.3

11.1

19.4

46.5

7.5

Nữ

12.9

7.5

4.9

13.6

6.4

9.5

21.0

3.0

Vòm

Nam

10.7

5.1

2.6

18.5

7.6

24.3

4.5

0.5

Nữ

5.1

1.5

1.5

7.3

3.7

9.5

1.8

0.2

Phổi

Nam

24.6

33.1

36.0

62.7

58.7

74.7

56.1

61.3

Đại tràng

Nam

5.8

5.9

4.1

24.2

10.9

22.5

12.2

28.1

Vể

Nữ

21.8

12.2

14.6

41.8

47.7

34.0

26.5

90.7

Cổ tử cung

Nữ

6.8

26.0

25.6

16.3

21.6

15.3

3.3

7.5

Hình 1a: Tỷ lệ mắc chuẩn tuổi của 10 loại Ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Việt Nam – 2000

thống kê


 Hình 1b: Tỷ lệ mắc chuẩn tuổi của 10 loại Ung thư phổ biến nhất ở nam giới Việt Nam – 2000


12

No Responses

Write a response