Lịch sử hình thành và phát triển

1.Sự ra đời và hoạt động của Viện Radium những năm 1923-1945.
      Những năm đầu thập kỷ 20, ở Việt Nam đã có các bệnh viện để khám và chữa bệnh cho cả người Pháp và người bản xứ. Lúc bấy giờ, trên thế giới các nhà y học đang tìm kiếm cách chữa trị bệnh ung thư. Tại Đông Dương, trong các bệnh viện chưa có khoa chuyên về ung thư, trong khi đó bệnh nhân ung thư đã khá đông. Để đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, một tổ chức ung thư tư nhân mang tên: Viện Radium Đông Dương (Institut du Radium de L’indochine) đã ra đời tại Hà Nội vào ngày 19 tháng 10 năm 1923 do ông Pièrre Moullin phụ trách (1923-1924).

lichj sử phát triển
Viện Radium Đông Dương vốn là một tổ chức từ thiện, có chức năng nghiên cứu khoa học, nhằm theo đuổi 4 mục đích :
1. Xây dựng tại Hà Nội và các tỉnh khác ở Đông Dương các viện điều trị bằng phóng xạ Radium và tia xạ X (Institut de Radium thérapie et Roentgenthérapie).
2. Theo dõi, nghiên cứu các khối u ác tính tại Đông Dương.
3. Tổ chức một mạng lưới các cơ sở chống ung thư.
4. Điều trị những bệnh nhân mắc bệnh ung thư.
Là một tổ chức y tế tư nhân hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước, Viện Radium có số vốn hoạt động không hạn định; phần lãi suất, Viện dành cho việc phát triển các cơ sở chi nhánh, hoặc các công việc từ thiện.
Về công tác tổ chức, Viện Radium lúc đầu hoạt động như một hội, do một vị Chủ tịch đứng đầu. Kể từ khi thành lập (1923) đến 1945 đã có nhiều người đảm nhiệm chức vụ này như: Piérre Moullin (1923), Henri Tissot (1926), Le Roy des Barres và Pierre Huard (1933), Sauvage, Long (1942) . . .
Ngoài công tác điều trị, Viện Radium còn là trung tâm nghiên cứu bệnh ung thư. Viện thường xuyên liên lạc với Hội chống ung thư của Pháp và hãng Radium Belge để mua các ống và kim đựng chất phóng xạ Radium.
Cuộc đại chiến thế giới thứ hai, nhất là sau vụ Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945 đã làm đảo lộn cục diện chính trị trong nước. Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, đến thời điểm này, Viện đã xác lập được vai trò và có một vị trí đáng kể trong việc điều trị bệnh ung thư ở Việt Nam, góp phần làm giảm bớt số lượng bệnh nhân tử vong vì căn bệnh nan y này. Viện còn là nơi thực tập cho sinh viên trường Đại học Y dược Hà Nội về bộ môn giải phẫu và tổ chức học.
2. Viện Radium Đông Dương trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, thực dân Pháp tái chiếm Hà Nội, Viện Radium bị tận dụng làm trụ sở của quân Pháp
Sau 2 tháng bị chiếm đóng, Viện được trả lại cho chuyên môn, các hoạt động của Viện Radium dần dần được phục hồi trở lại. Lúc này, Chủ tịch Viện Radium là BS Long. Cơ sở vật chất và các phương tiện khám chữa bệnh của Viện Radium vẫn được bảo toàn gần như nguyên vẹn.
Đầu năm 1948, Hội ung thư Việt Nam được thành lập do BS Nguyễn Xuân Chữ làm Chủ tịch. Ông cũng đồng thời đảm nhiệm việc điều trị bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Phủ Doãn.
Trong những năm 1948-1954, làm việc tại Viện Radium ngoài BS Long, BS Nguyễn Xuân Chữ, còn có sự cộng tác của GS. Huard và các bác sĩ: Olivier, Chardon, Jissut là bác sĩ của Bệnh viện Saint Paul, một số thầy thuốc người Việt như: BS Lương Tấn Trường – phẫu thuật viên, BS Nguyễn Đức Quảng – chuyên khoa X-quang.
Hiệp nghị Genève được ký kết (7/1954), quân đội Pháp phải rút khỏi miền Bắc. Tại các bệnh viện ở Hà Nội, trong đó có Viện Radium một số bác sĩ đã đi Nam. Vì là một tổ chức tư nhân nên mãi đến năm 1957, Viện mới được chính thức bàn giao từ phía người Pháp cho Chính phủ Việt Nam. Thực hiện tiếp quản Viện Radium gồm các bác sĩ Nguyễn Như Bằng, Đỗ Bá Hiển, Phạm Thụy Liên, Lương Tấn Trường, Phan Huy Chữ và y tá Đỗ Thiên Thu.
Như vậy, từ một cơ sở y tế tư nhân hình thành dưới thời thuộc địa, Viện Radium từ nay đã trở thành tài sản của nhân dân và trở thành một bộ phận không thể tách rời của nền y học Việt Nam.
3. Khoa ung thư ở Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức, Tiền thân của Bệnh viện K
     Hoà bình được lập lại trên miền Bắc, ngành ung thư học ở Việt Nam bắt đầu có điều kiện phát triển hơn. Theo sự sắp xếp mới về tổ chức từ năm 1959, Viện Radium được sát nhập vào nhà thương Phủ Doãn, (sau là Bệnh viện Việt – Đức) và trở thành khoa Ung thư của bệnh viện trong những năm 1959-1969. Giám đốc danh nghĩa của Viện là GS Tôn Thất Tùng lúc này đang giữ cương vị Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn.
Trong một thời gian khá dài, từ 1960 đến 1969. Tại đây, để chuẩn bị phát triển thành Viện, Khoa đã bắt đầu xây dựng các bộ phận cận lâm sàng mang tính chất độc lập. Từ buổi ban đầu hoàn toàn phụ thuộc vào Bệnh viện Việt – Đức về mặt tài chính, các cán bộ y bác sĩ của khoa đã chủ động tổ chức và tự đảm nhiệm được công tác chuyên môn theo phạm vi, nhiệm vụ của mình.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao về chuyên môn của ngành Ung thư, được sự đồng ý của Chính Phủ, ngày 17/7/1969, Bộ Y tế đã ra quyết định số 711/BYT/QĐ thành lập Bệnh viện K. Từ đây, ngành nghiên cứu và chữa trị ung thư Việt Nam cũng bắt đầu bước sang một giai đoạn phát triển mới, góp phần đắc lực trong việc phục vụ sức khoẻ cho các tầng lớp nhân dân.

22

No Responses

Write a response