Các phương pháp chuẩn đoán ung thư

 chuẩn đoán

Kính hiển vi nhiều đầu, triển khai kỹ thuật hoá mô miễn dịch

CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN UNG THƯ

      Chẩn đoán xác định bệnh ung thư là bước đầu tiên quan trọng nhất khi bệnh nhân ung thư đến với thầy thuốc. Quá trình chẩn đoán ung thư đi từ đơn giản như hỏi, khám bệnh bằng nhìn, sờ, gõ, nghe, đến phức tạp hơn như quan sát các tế bào dưới kính hiển vi.

      1- Khám lâm sàng:

      Là phương pháp lâu đời, được áp dụng rộng rãi nhất. Thầy thuốc cần phải biết rõ những triệu chứng ban đầu chính yếu của các loại ung thư khác nhau. Người thày thuốc đầu tiên khám bệnh là người có trách nhiệm nặng nề trong công tác chuẩn đoán sớm để bệnh nhân có nhiều nhất hy vọng được chữa khỏi.

      Cần khai thác tỷ mỉ tiền sử và bệnh sử của bệnh nhân:

  • Tiền sử gia đình

  • Tiền sử xã hội là quan trọng. Tỷ lệ ung thư cổ tử cung cao hơn ở những quần thể mà điều kiện kinh tế, xã hội thấp. Tiền sử hôn nhân và giới tính cũng quan trọng.

  • Số lượng sinh đẻ và quá trình cho con bú có một số ảnh hưởng đến tỷ lệ ung thư vú, cũng như sinh hoạt tình dục sớm có liên quan đến tỷ lệ tăng cao ung thư cổ tử cung.

  • Những tập quán cá nhân như hút thuốc lá làm tăng tỷ lệ ung thư phế quản, nhai thuốc hay hút thuốc tẩu làm tăng tỷ lệ ung thư miệng.

      Cần lưu ý đến những triệu chứng báo động sau:

  • Thay đổi thói quen ruột, bàng quang như ỉa chảy kéo dài không rõ nguyên nhân, đái dắt, đái khó kéo dài. . .

  • Vết lở loét kéo dài không khỏi với các thuốc điều trị thông lệ.

  • Chảy máu, tiết dịch bất thường.

  • Một u ở vú hoặc bất kỳ nơi nào của cơ thể, có khi chỉ là chỗ dày lên.

  • Khó nuốt, rối loạn tiêu hóa kéo dài.

  • Nốt ruồi thay đổi kích thước, màu sắc nhất là chảy máu.

  • Ho dai dẳng, khàn tiếng kéo dài.

      2- Cận lâm sàng:

      Chụp X-quang:

      Được chỉ định cho những bệnh nhân có triệu chứng ung thư phổi hay những ung thư ở các vị trí khác có thể di căn vào phổi. Chụp X-quang kết hợp chất cản quang để phát hiện ung thư dạ dày, đại tràng. Chụp vú có hệ thống có kết quả tốt trong phát hiện ung thư vú. Chụp X-quang xương có thể phát hiện các ung thư xương, nhất là đối với các thanh thiếu niên có triệu chứng đau xương khớp chưa rõ nguyên nhân.

      Chụp nhiệt:

      Chủ yếu dùng cho các khối u dưới da như ung thư vú, ung thư hắc tố.

      Chụp lấp lánh:

      Với các đồng vị phóng xạđược sử dụng để chẩn đoán ung thư, phát hiện các di căn xương, gan, xác địnhcs nhân lạnhở giáp trạng. . .

      Siêu âm:

      Được áp dụng nhiều để phát hiện các tổn thương u ở sâu hay trong các cơ quan nội tạng.

      Chụp cắt lớp vi tính:

      Cho phép chụp hàng loạt các hình rất rõ và chính xác theo chiều ngang của cơ thể (như các khoanh dồi) ở mọi mức độ cao thấp, để trình bày hình khối ba chiều của các cơ quan trong cơ thể và tránh được sự chồng chất các hình ảnh.

      Chụp cắt lớp vi tính có khả năng phát hiện các khối u đường kính xấp xỉ 1cm trong nhiều cơ quan, kể cả các cơ quan nằm sâu trong cơ thể khó với tới như: Não, thận và tụy tạng.

      Chụp cộng hưởng từ:

      Là một phương pháp làm hiện hình mới nhất có thể cho một hình cắt ngang ở bất cứ một bình diện nào chứ không phải là chỉ ở một diện trục. Cộng hưởng từ hạt nhân có thể cho phép phân biệt được một số tổn thương tùy theo mức độ cộng hưởng từ trường của hạt nhân.

      Chụp hình qua kháng thể đơn clôn:

      Kháng thể đơn clôn là loại kháng thể chỉ phản ứng đặc hiệu với riêng một loại kháng nguyên nhất định. Khi được tiêm vào cơ thể đơn clôn sẽ tìm đúng đối tượng là các kháng nguyên đặc hiệu nằm trên bề mặt các tế bào ung thư, lượng đồng vị phóng xạ gắn trên kháng thể đơn clôn sẽ được đo bằng máy Gamma và như vậy sẽ làm hiện hình khối u với vị trí và kích thước rõ ràng. Tuy nhiên, vì kỹ thuật phức tạp, tốn kém nên phương pháp này còn xa mới trở thành thông dụng.

      Những chất chỉ điểm sinh học:

      Là những chất được tế bào ung thư tổng hợp ra và thường thì không thấy hoặc thấy với số lượng nhỏ ở các tế bào lành mạnh. Hiện nay, người ta tìm được năm chục chất chỉ điểm sinh học của ung thư, nhưng chỉ có khoảng mười loại được dùng để phát hiện sớm ung thư hoặc để theo dõi quá trình điều trị.

      Kháng nguyên APS tăng cao có thể phù hợp với một ung thư gan hoặc ung thư tinh hoàn. Kháng nguyên CEA cho phép nghĩ đến các ung thư ống tiêu hoá hoặc các ung thư vú, phổi. Kháng nguyên VCA được thấy trong ung thư vòm họng.

      Gần đây, có một số chất chỉ điểm sinh học mới tìm ra, trong đó CA – 125 là có giá trị ở ung thư buồng trứng vì 80% phụ nữ bị bệnh này có chất đó ở mức độ cao.

      Các phương pháp nội soi:

      Nội soi giữ một vai trò quan trọng trong chẩn đoán ung thư. Nhờ có những phương tiện quang học mà những tổn thương tiền ung thư hay ung thư có thể được nhận thấy được chụp ảnh và được lấy đi để làm xét nghiệm mô bệnh học. Ngày nay đã có những ống nội soi mềm dùng ánh sáng lạnh phổ biến ở các nước phát triển để khám xét phần lớn các cơ quan nội tạng.

      Nhờ sử dụng ánh sáng lạnh cao thế mà ta nhìn được những hình ảnh rõ nhất và những hình ảnh đó lại có thể được truyền ra màn hình để ghi nhận lại được.

      Chuẩn đoán tế bào học:

      Phân loại của Papanicolaou:

Loại 1: Phiến đồ bình thường.

Loại 2: Phiến đồ bất bình thường nhưng chỉ là viêm.

Loại 3: Phiến đồ nghi ngờ ác tính.

Loại 4: Phiến đồ ung thư, tế bào ác tính chưa nhiều.

Loại 5: Phiến đồ chắc chắn ung thư, dày đặc tế bào ác tính.

      Từ kỹ thuật tế bào học bong tới các kỹ thuật áp, quệt, phết các mảnh bệnh phẩm các loại. Ngày nay, người ta có thể với tới hầu hêt các tổn thương trong cơ thể, kể cả các tạng sâu với kỹ thuật chọc hút tế bào bằng kim nhỏ.

      Qua thực tế đã khẳng định rằng chỉ có phương pháp tế bào học mới đáp ứng đầy đủ nhất cả 5 yêu cầu: Đơn giản, nhạy, tin cậy, có hiệu suất và tiết kiệm.

      Các xét nghiệm huyết học:

      Chủ yếu để chẩn đoán một số ung thư thuộc hệ tạo máu mà thực chất là chẩn đoán tế bào học.

      Huyết đồ cho phép xác định ung thư như các bệnh bạch cầu.

      Tủy đồ cho phép xác chẩn các ung thư bạch cầu, có giá trị hơn so với huyết đồ. Trong một số trường hợp như bệnh Hodgkin, U limphô ác không phải Hodgkin, tủy đồ giúp đánh giá sự lan tràn của bệnh.

      Chẩn đoán mô bệnh học:

      Việc chẩn đoán mô bệnh học của ung thư là giai đoạn tối quan trọng. Phải định được loại ung thư (dạng vi thể hay dạng mô học), vì việc điều trị, nhất là điều trị hoá chất hoàn toàn phụ thuộc vào kêt quả này. Nói chung, không thể điều trị ung thư khi bệnh nhân chưa được chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm mô bệnh học. Từ những thông tin thu nhận được qua hỏi, khám lâm sàng và các xét nghiệm, người thày thuốc đưa ra chẩn đoán:

  • Xác định bệnh

  • Thể bệnh

  • Giai đoạn bệnh.

      Trên cơ sở chẩn đoán đầy đủ, toàn diện mới đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả nhất.

      Chẩn đoán mô bệnh học không những có ý nghĩa xác chẩn cho phát hiện tế bào học mà còn có thể kiểm tra mọi kết quả chẩn đoán của các phương pháp khác và vì thế nó mang ý nghĩa khẳng định chẩn đoán hay như các chuyên gia ung thư vẫn thừa nhận:“mô bệnh học là tiếng nói cuối cùng”.

      Tóm lại: Có nhiều phương pháp để chẩn đoán ung thư. Trong thực tế, phương pháp nào cũng có âm tính và dương tính giả, tuy mức độ có khác nhau. Người thày thuốc chẩn đoán ung thư phải biết lựa chọn và kết hợp chỉ định các phương pháp khác nhau, trong đó có những phương pháp nhất thiết phải làm. Tuy nhiên, con đường chẩn đoán ung thư hợp lý nhất là đi từ lâm sàng đến cận lâm sàng, từ giản đơn đến phức tạp.

18

No Responses

Write a response